Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Những trãi nghiệm bất lợi thời thơ ấu (Adverse childhood experiences )


Các hậu quả của những trải nghiệm bất lợi thời thơ ấu (ACEs) như sự ngược đãi trẻ em hay các sang chấn tâm lý khác đối với những hành vi nguy cơ cho sức khỏe và các bệnhmãn tính về lâu dài đã được tập trung với số lượng ngày càng nhiều các nghiên cứu
Tuy nhiên, nhiều quốc gia đã đánh giá cao mối liên hệ của ACE về mặt y tế công cộng và những hậu quả lâu dài của chúng. Vì sự nhận thức này mà người ta ngày càng có nhiều nhu cầu về việc thu thập dữ liệu về ACE như là một phần của các nghiên cứu lớn hơn về sức khỏe và hành vi nguy cơ đến sức khỏe, và những phát hiện từ đây được dùng đểủng hộ và cung cấp thông tin cho những chính sách và các chương trình thiết kế nhằm làm giảm ACE và nâng cao mối quan hệ an toàn, bền vững và chăm sóc giữa trẻ em vàcha mẹ hay những người chăm sóc.

Video 2


Video 3
Video 4

Video 5

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Ngẫu hứng…

Hôm nay xem lại mấy tấm ảnh của mấy Khoa sinh viên YTCC từ 1 đến 6.
Sau đây là cảnh ăn chơi qua các thời kỳ

Y tế công cộng Khóa 1 - Vẫn hoành tráng và "ĐÚng là mấy ông bà của Bộ"


Y tế công cộng Khóa 2

Y tế công cộng Khóa 3

Y tế công cộng Khóa 4 ((Đề nghị cho ảnh hoành tráng hơn - tìm mãi khoogn thấy tấm nào cả)


Y tế công cộng Khóa 5 (Đề nghị cho ảnh hoành tráng hơn - tìm mãi khoogn thấy tấm nào cả)

Y tế công cộng Khóa 6 vẫn là xi teen nhất (Cái áo đẹp !)


Ảnh: Mr Tú YTCCK1, Ms Trà K2; Minh K4; Huyền K5; Mây màu mè K6

Nếu xem qua mail không được vui lòng vào địa chỉ http://ytcchue.blogspot.com/

TBT_07


Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Cuốn sách cần cho SV YTCC đi thực tập CĐ và đã đi làm

  Cuốn giáo trình thực tập CĐ YTCC TPHCM (click vào hình nha)


CÁC KHÁI NIỆM VÀ PRA

 

Cách đề cập và các phương pháp đánh giá nhanh vùng nông thôn (Rapid Rural Appraisal: RRA) xuất hiện từ những năm cuối của thập kỷ 70. Nguồn gốc của phương  pháp này nhằm hạn chế cách nhìn nhận méo mó của những nhà chuyên môn khi đi thăm các vùng nông thôn để đề xuất các dự án phát triển và những bộ câu hỏi dày. Người ta cố gắng tìm tòi những phương pháp đánh giá nhanh và có giá thành hiệu quả cao. Trong những năm 80, phương pháp này đã được sử dụng rộng rãi, PRA (Participatory Rural  Appraisal – Đánh giá nông thôn có sự tham gia; Participatory Rapid Assessment – Đánh giá nhanh có sự tham gia) xuất phát từ RRA nhưng khác biệt chủ yếu là dựa vào ý kiến  cộng đồng khi thu thập thông tin cần thiết.
PRA là một phương pháp thường được dùng trong nhiều lĩnh vực, ngày nay nó có thể  xem là một phương pháp đánh giá nhanh nhằm xác định nhu cầu sức khoẻ của cộng  đồng với sự đầu tư chi phí đánh giá rẻ nhưng hiệu quả cao, đang được khuyến khích  rộng rãi trong thăm dò nhu cầu về y tế của nhân dân với sự huy động tham gia tối đa của họ trong nghiên cứu và thiết lập chương trình can thiệp y tế. Một số dự án như hỗ trợ  vùng khó khăn, dự án phát triển Hà Lan, quản trị đã lấy PRA như là một công cụ cơ bản  để thăm dò nhu cầu của cộng đồng trước khi lập kế hoạch can thiệp y tế.

NGUYÊN LÝ CỦA ĐÁNH GIÁ NHANH 

 

Nguyên lý của đánh giá nhanh bao gồm 6 nguyên lý cơ bản:
1.  Thu thập thông tin nhanh và dần dần thông qua việc sử dụng những phương pháp  mềm dẻo, ứng biến, lặp lại và không tuân theo một chương trình cố định nào mà  thích ứng nó trong quá trình thu thập thông tin.
2.  Hạn chế sai lệch (bias) các thông tin về không gian, thời gian, mùa, nghề nghiệp … của các hoạt động phát triển nông thôn, không vội vã mà từ từ, thoải mái.
3.  Học hỏi trực tiếp với người dân.
4.  Sử dụng nhiều phương pháp: ít nhất là 3 phương pháp cùng lúc hay dùng các nguồn thông kin để kiểm tra chéo với nhau về độ chính xác.
5.  Hạn chế thấp nhất về giá thành thu thập các thông tin thật, có ích lợi và có sự thăng bằng giữa các thông tin về lượng, tính phù hợp, tính chính xác, thời gian. Nguyên tắc:
-  Không thu thập những thông tin không chính xác và không cần thiết.
-  Không đo lường những gì không cần thiết hay không cần đo lường chính xác những thông tin không cần thiết cho mục đích thực hành.
6.  Có ý thức phê phán và phản ứng về những gì không nhìn thấy, về những người đã và
chưa gặp, những gì đã và chưa nghe thấy và nguồn gốc các sai số có thể xảy ra.

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NHANH 

 

Dưới đây liệt kê những loại phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đánh giá nhanh:
-  Nghiên cứu những thông tin sẵn có.
-  Quan sát trực tiếp (Directly observe) bao gồm cả vừa đi dạo vừa quan sát  (Observed walking).
-  Tham gia vào các công việc cụ thể ở cộng đồng để quan sát (Observed participate).
-  Phỏng vấn những người biết nhiều thông tin (Key informants).
-  Phẫu thuật tử thi bằng lời (Verbal autopsy).
-  Phỏng vấn (Interview) sử dụng bộ câu hỏi mở (Openning questionnair) để phỏng  vấn nhóm, cá nhân.
-  Nghiên cứu những chỉ số quan trọng (Important index reference).
-  Hội thảo hay góp ý nhanh (Seminar).
-  Đi bộ cắt ngang qua cộng đồng theo nhóm (Walk across the community).
-  Vẽ bản đồ (Mapping).
-  Vẽ sơ đồ (Modeling).
-  Phân loại và cho điểm (Classification and Scoring).
-  Xác định nhanh về số lượng (Quickly preliminarily determine the quanlity).
-  Nghiên cứu các sự kiện lịch sử theo thời gian (Timeline), vẽ đường xu hướng  (Trendline), lịch thời vụ (Seasonal calendar / Seasonally diagramming).
-  Nghiên cứu trường hợp (Case-study).
-  Quản lý nhóm / tổ công tác và làm việc theo nhóm (Team managing, Team working).
-  Sử dụng các bộ câu hỏi đơn giản ngắn (Short-simple questionnair).
-  Viết báo cáo nhanh tại thực địa.

ĐÁNH GIÁ NHANH CÓ DỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG (PRA)

Phương pháp PRA có thể được tóm tắt như sau:
-  “Những người đến vùng nông thôn để thu thập thông tin sau đó mang về thành  phố để phân tích. Ưu điểm chính của nó là có khả năng trong một thời gian ngắn  thu thập thông tin cho những người lập kế hoạch cho các dự án phát triển.”
-  Ngược lại với phương pháp RRA, trong PRA việc phân tích và trình bày thông tin  sẽ do cộng đồng tiến hành ngay tại cộng đồng. PRA có thể được định nghĩa như là một quá trình nghiên cứu mềm dẻo từ cộng đồng và do cộng đồng tiến hành trong điều kiện của họ. Nhìn chung nó giống như RRA nhưng nó khắc phục được hai nhược điểm của RRA:
  Vai trò ngược lại của người nghiên cứu: thoải mái, không vội vã.
  Thiết lập mối quan hệ với cộng đồng.
-  Vai trò của người nghiên cứu và người được nghiên cứu thay đổi. Người nghiên cứu học từ cộng đồng và cộng đồng dạy họ. Cộng đồng thực hiện và điều khiển toàn bộ quá trình nghiên cứu. Việc điều tra, trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu được thực hiện bởi chính người trong cộng đồng, bao gồm việc chia sẽ thông tin: vẽ bản đồ, sơ đồ và định lượng. Các phương pháp tiến hành đều có sự tham gia của cộng đồng. Nghiên cứu không phải do người nghiên cứu thực hiện mà với cộng đồng và thực hiện bởi cộng đồng.
-  Thiết lập mối quan hệ tốt với cộng đồng là rất quan trọng. Điều này đòi hỏi người nghiên cứu ngoài cộng đồng phải định hướng lại. Thoải mái, ý thức thật nghiêm túc. 
-  Những cử chỉ và thái độ sau đây của người nghiên cứu sẽ làm cản trở cộng đồng bày tỏ hiểu biết và khả năng phân tích sáng tạo của họ:
  Vung tay, vung gậy.
  Ngồi sau bàn.
  Chế ngự và lấn át suy nghĩ và phát triển của cộng đồng.
  Vội vã thiếu kiên nhẫn.
  Đòi hỏi cộng đồng phải cung cấp thông tin, trả lời câu hỏi.
  Cho rằng chúng ta hiểu biết cộng đồng còn cộng đồng thì ngu dốt cộng đồng có nhiều vấn đề để giải quyết.
  Thiếu kính trọng, không quan tâm, lắng nghe và học hỏi cộng đồng.
-  Các phương pháp PRA đã được phát triển nhằm khắc phục các hạn chế trên. Nó đòi hỏi người nghiên cứu từ bên ngoài cộng đồng phải có thái độ, hành vi đúng, đó là:
  Tham gia vào các hoạt động của cộng đồng.
  Kính trọng cộng đồng.
  Quan tâm những gì mà cộng đồng biết, nói và trình bày.
  Kiên nhẫn không vội vàng, không ngắt lời.
  Khiêm tốn.
  Sử dụng các phương pháp và các tài liệu làm cho cộng đồng bày tỏ, chia sẻ, phân tích những hiểu biết của họ.
-  Trong thảo luận nhóm có chủ điểm thường đòi hỏi sự có mặt của người dân trong cộng đồng, do đó tốt nhất là tổ chức vào thời điểm vào buổi tối hay vào những ngày có thời gian rỗi.

NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA PRA 

-  Chia sẻ quan điểm và nhận thức với cộng đồng. Cộng đồng vẽ bản đồ và sơ đồ hay định hướng theo hiểu biết của họ vì họ đã tạo ra nó, và những thông tin này kiểm tra và bổ sung lẫn nhau. 
-  Phương pháp cho điểm và phân loại được sử dụng nhiều hơn là phương pháp đo lường, đặc biệt với những thông tin nhạy cảm như sự thu nhập, sự giàu nghèo. Cộng đồng thường đưa ra những giá trị tương đối và giấu đi những giá trị tuyệt đối. Cộng đồng thường cho điểm và phân loại theo tiêu chuẩn của họ.  Sự kết hợp và trình tự hợp lý của các phương pháp nghiên cứu cho thấy nó rất có  giá trị và sát thực tế. Việc tham gia của cộng đồng vào việc vẽ bản đồ, sơ đồ, sẽ  dễ dàng dẫn đến các hoạt động khác như thảo luận đường đi xuyên qua làng, lập danh sách hộ gia đình phân loại giàu nghèo, xác định số người và thành phần  trong cộng đồng.  Cách đề cập và phương pháp là động viên sự tham gia của cộng đồng. Sử dụng  bộ câu hỏi thiết kế sẵn dễ gây nhàm chán. Các phương pháp PRA thường hấp  dẫn hơn. Chúng ta phải học cách không phỏng vấn hay cắt lời khi cộng đồng đang trình bày ý kiến và kiến thức của họ. Họ là người nghiên cứu, thực hiện và trình bày kết quả nghiên cứu.

MỘT SỐ KỸ THUẬT PRA CƠ BẢN

-  Phỏng vấn sâu (deeply interview)
-  Thảo luận nhóm tập trung (focus group discussion).
-  Quan sát (quan sát trực tiếp và quan sát tham gia) (directly observe  – observe in participatory).
-  Đi bộ cắt ngang qua xóm (Walk across the community).
-  Phương pháp vẽ bản đồ (Mapping).
-  Phương pháp lịch thời vụ (Seasonal calendar).
-  Biểu đồ thời gian, Biểu đồ xu hướng (Timeline, Trendline).
-  Phân loại giàu nghèo hợp tác cùng cộng đồng (Wealth Ranking).
-  Xác định “Sơ đồ tổ chức cộng đồng” (Institutional Mapping).
-  Phân loại ưu tiên (Preference Ranking).
-  Phân tích kế sinh nhai.

Trích: Bài giảng PRA của YTCC HCM
Nguồn tham khảo 2:Overview of Participatory Rural Appraisal (PRA) -  http://www.fao.org/Participation/tools/PRA.html

Giáo trình phục vụ thực tập kỷ năng cho SV và các nội dung liên quan: ATTACHMENT

TBT_07

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Cảm nghỉ và tranh luận về nghề Y tế công cộng

Bài viết sau giúp người học, người làm Y tế công cộng nhận ra giá trị của chính mình cũng như là suy nghĩ của ngay những người trong nghề. Bài viết màng tính cá nhân không phải áp đặt hay phô truơng hay PR gì cả. Hy vọng mang lại chút cảm nhận cho người đọc là những SV, Cán bộ làm YTCC.



CẢM NGHĨ

Chào các bạn, tôi chưa tốt nghiệp nhưng luôn băn khoăn năm tới mình ra sẽ làm gì. Công việc có như ý muốn mình hay không, ngồi nghỉ thêm tác động của những người bạn đã ra trường đi xin việc cho thấy kinh nghiệm “đi đâu ciungx phải có cái đó” càng làm tôi thêm nản.
Image
Cái ngày bước vào đại học y dược niềm vui sướng tột cùng nhưng ngày đó sinh viên y tế công cộng không có tiếng nói gì ở cái trường ĐH Y dược Huế này cả bởi họ đẩy ra Quảng Trị học. Là khóa 3 chúng tôi lo lắng ngành mình như thế nào mà phải bị đẩy đi Quảng Trị học, nhưng thật may mắn chúng tôi được học luôn tại trường từ đầu.

Rồi thời gian cứ thế, hôm nay đã năm 3 những đàn anh đàn chị đã ra trường 1 khóa. Quay lại chuyện ra trường, Ngày đó ai cũng nói xã hội chưa xem trọng y tế công cộng chưa biết tới nó. Thật buồn. Những đàn anh đàn chị họ lo lắng vì chuyện làm sao ra trường mình thay đổi điều đó, như một nhân chứng 7/2009 y tế công cộng Huế xuất khẩu lứa đầu tiên. Và một tin mừng là 50/54 đã có việc làm ở các công sở nhà nước như: Sở y tế, trung tâm y tế dự phòng, TTSKSS, Trường ĐH, CĐ từ Bắc chí nam và trọng tâm khu vực miền trung và 4 người còn lại đang học cao học. Nhưng điều đó chưa làm chúng tôi an lòng ai cũng bảo co thể họ ra may mắn nhưng không may mắn tý nào, hiện tại các cơ quan y tế rất cần y tế công cộng. Ngày hôm kia một tổ chức I-NGO đã đến khoa Y tế công cộng và đề xuất muốn tuyển 5 sinh viên Ytcc4 (lớp chỉ có 26 sinh viên) chuẩn bị tốt nghiệp nhằm đáp ứng các công việc ở các tỉnh miền trung, một tin mừng phải không?
Chúng ta biết Thầy trưởng Khoa mới hàng năm luôn liên hệ hơn 5 suất ở các sở y tế cho các sinh viên tốt nghiệp. Riêng năm nay trung tâm y tế dự phòng sẽ tuyển thêm 3-6 suất, sở y tế thì cũng tương tự. Vậy bạn có còn nghi ngờ, lo lắng gì nữa về việc làm nữa không. Riêng tôi nghỉ các bạn hãy tập trung học thật tốt, cố gắng bồi dưỡng ngoại ngữ thật tốt (Tôi đã có cơ hội tham gia đánh giá WVV ở một tỉnh phía Bắc, chứng minh cho thấy Y tế công cộng làm rất được việc nhưng ngoại ngữ yếu thì rất thiệt thòi.) ngoài ra chúng ta được cung cấp kiến thức general nên cố gắng đọc thêm những lĩnh vực không phải riêng 1 mình ngành mình học.


Một tương lai rộng mở, là người nhân viên y tế luôn vì sức khỏe số đông như câu “Gieo sức khỏe, gặt niềm tin” của ytecongcong.com tôi tin y tế công cộng tôi tin chúng ta sẽ có chổ đứng rỏ ràng hơn trong xã hội.
Cộng đồng y tế công cộng hãy liên kết nhau, chia sẽ kinh nghiệm cùng nhau phát triển.
Trích từ: Ytecongcong.com (viết cách đây 1 năm)

TRANH LUẬN - ĐỊNH HƯỚNG

Đầu tiên tôi xin trích dẫn với các bạn 3 bài viết được đăng trên tạp chí YTCC

**Bài thứ nhất: Những khái niệm cơ bản về YTCC - PGS.TS Lê Vũ Anh
Đặt câu hỏi YTCC khác gì so với Y Tế Cộng Đồng (YTCĐ), với Y Học Dự Phòng (YHDP), với Vệ Sinh-Dịch Tễ (VSDT), và gần đây một số trường đại học YTCC trên thế giới lại đổi lại tên thành Sức Khỏe Quần Thể (Population Health). Một số khái niệm rất cơ bản về lý luận và thực tiễn sau. Chắc chắn những khái niệm này chưa thể phản ánh được đầy đủ những nội dung của một ngành học mà các nước bắt đầu khởi xướng ra đã phải trải qua một chặng đường hơn một thế kỷ để phát triển nó.
Link: http://www.mediafire.com/?njidaedtmnm

*Bài thứ hai: Cần có cái nhìn đúng đắn về Y học dự phòng - PGS.TS Lê Thế Tự

Sức khỏe con người không chỉ phụ thuộc vào yếu tố sinh học và di truyền mà còn liên hệ rất mật thiết với môi trường. Con người phải tìm ra cách tiếp cận tối ưu đối với môi trường thiên nhiên, nhằm điều khiển các mâu thuẫn, khai thác hợp lý những yếu tố có lợi, loại trừ hoặc hạn chế những yếu tố bất lợi. Đó chính là nguyên tắc đúng đắn của y học dự phòng với mục đích là làm cho con người sống khỏe, sống lâu, sống có ích. Quan niệm về dự phòng cần đạt tới là một xã hội tiến bộ, dân chủ, công bằng và nhân đạo. Do đó một chính sách dự phòng có hiệu quả phải dựa trên nền tảng của công tác giáo dục, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống nhằm làm cho con người có hiểu biết và hành động đúng.
Link:http://www.mediafire.com/?gy0nmuqomkz

*Bài thứ ba:Những chức năng có bản của YTCC - PGS.TS Lê Vũ Anh
Giúp các bạn có thêm được những thông tin cụ thể hơn về các chức năng và nhiệm vụ của YTCC, trả lời cho câu hỏi "Tại sao khoa học YTCC lại có vai trò quan trọng trong sự nghiệp nâng cao sức khoẻ cộng đồng?".
Link: http://www.mediafire.com/?ghmzddzkkuw

Thứ hai: Xin giử đến các bạn khảo sát về việc làm của cử nhân YTCC khóa 1 + 2 tại HSPH (Mốc 11/2007, biến động hiện tại thì chưa cụ thể) => Các cử nhân có thể làm ở các vị trí chính:
- Trong hệ thống y tế nhà nước từ cấp huyện đến bộ
- Các tổ chức phi chính phủ trong nước và ngoài nước
- Các bệnh viện (Thường là phòng kế hoạch tổng hợp/ hoặc phòng nghiên cứu khoa học)
Link: http://www.mediafire.com/?mvog5yn3jeh

Thứ ba, tôi đã ra trường và đang làm trong một NGO-VN có một vài chia sẻ
- Về việc học: Học tại đại học (Nhất là định hướng khoa học xã hội) chủ yếu cung cấp cho ta những cách tư duy một vấn đề, một vài công cụ để giải quyết vấn đề của ngành đó. Nếu khi ra trường công việc gọi là đúng ngành mà không đủ nuôi sống miệng ăn, không có niềm cảm hứng thì … cần xác định những kiến thức, thái độ, kỹ năng tinh thần học hỏi để thích nghi (Xác định như thế nào thì cần phải học Smile).

- Về NGO-VN: Thường làm các công việc nghiên cứu và tổ chức các dự án can thiệp cộng đồng (Nếu bạn đang còn đi học hãy động não và phân tích cần những kiến thức và kỹ năng then chốt nào cần để bổ sung ngay từ bây giờ). Mà các dự án với nguồn tiền chủ yếu là ở ngoài nước. Càng ngày cảng phát triển, nước ta cơ bản thoát nghèo tổ chức hệ thống nhà nước ngày càng hoàn thiện thì các nguồn tiền từ nước ngoài theo cách lựa chọn ưu tiên thì sẽ được ưu tiên vào các các nước kém phát triển hơn. Vaaaaaaaaaà các công việc/ dự án dành NGOs sẽ ít đi… theo quy luật của chọn lọc tự nhiên sẽ tan dã hoặc chuyển hoạt động sang hình thức hoạt động nào khác (Khác như thế nào thì phải đợi đến tương lai). Theo cảm nhận chủ quan của tôi chắc phải đến 10 - 15 năm nữa mới thấy sự rõ sự thay đổi.
- Cần làm gì bây giờ???: Có lẽ tùy người có lối đi riêng, nhưng ai không nhân biết được, không cố gắng và có bước đi đúng thì VẤT VẢ, KHỔ, HÈN.
Tác giả: Vũ Huy Nhất - "Dự án tổ chức phục hồi chức năng tại cộng đồng cho nạn nhân chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam", 

PHẦN KẾT
(còn tiếp)


TBT_07

Tìm kiếm nội dung trong blog

Đã xảy ra lỗi trong tiện ích này